Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, chính sách tài khóa tiếp tục giữ vai trò là một trong những trụ cột của điều hành kinh tế vĩ mô. Theo ông Nguyễn Văn Được, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín, giá trị của chính sách tài khóa hiện nay không chỉ được đo bằng quy mô hỗ trợ về thuế, phí, mà còn ở khả năng giảm chi phí cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Phóng viên: Nếu giai đoạn Covid-19, chính sách tài khóa chủ yếu hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp (DN) vượt qua khó khăn, thì trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, theo ông, đâu là sự thay đổi lớn nhất trong điều hành chính sách tài khóa? Những chính sách hiện nay tạo động lực tăng trưởng thông qua cơ chế nào?
![]() |
Ông Nguyễn Văn Được: Chính sách tài khóa luôn là một trong những công cụ quan trọng của điều hành kinh tế vĩ mô.
Nếu như giai đoạn dịch Covid-19, trọng tâm của chính sách tài khóa là triển khai các giải pháp trên diện rộng để giúp DN và người dân vượt qua khó khăn, thì hiện nay cách tiếp cận đã có sự chuyển dịch.
Các chính sách được thiết kế theo hướng có trọng tâm, trọng điểm hơn, vừa tháo gỡ khó khăn trước mắt, vừa tạo dư địa để DN đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo tôi, hiệu quả của chính sách tài khóa không nên chỉ nhìn ở quy mô miễn, giảm hay gia hạn thuế, mà cần được đánh giá bằng giá trị mà chính sách tạo ra cho nền kinh tế.
Điều quan trọng hơn là các chính sách đó có tạo được động lực để DN mở rộng đầu tư, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh hay không.
Khi DN phát triển thì quy mô nền kinh tế được mở rộng và nguồn thu ngân sách cũng sẽ được nuôi dưỡng bền vững.
Thực tế thời gian qua có thể thấy rõ định hướng này thông qua việc tiếp tục giảm 2% thuế giá trị gia tăng, gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất, giảm 46 khoản phí, lệ phí; hay mới nhất là đề xuất giảm 30% thuế thu nhập DN đối với DN nhỏ và giảm 30% thuế thu nhập cá nhân đối với hộ, cá nhân kinh doanh…
Đây đều là những chính sách hướng tới mục tiêu giảm chi phí, cải thiện dòng tiền và tạo điều kiện để DN duy trì cũng như mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, trong 7 tháng đầu năm đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí… khoảng 173,6 nghìn tỷ đồng hỗ trợ người dân, DN.
Tuy nhiên, theo tôi, giá trị lớn hơn nằm ở chỗ những chính sách này đã góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng DN.
Ở góc độ tài khóa, việc thực hiện các gói hỗ trợ cũng đòi hỏi phải tính toán hài hòa giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn ngân sách.
Vì vậy, các chính sách hiện nay chủ yếu được thiết kế có trọng tâm, đúng đối tượng để vừa hỗ trợ DN, vừa nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài.
Tuy nhiên, theo tôi, giá trị lớn hơn nằm ở chỗ những chính sách này đã góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng DN. Khi DN có thêm nguồn lực để đầu tư và mở rộng sản xuất thì chính sách tài khóa đã phát huy vai trò vượt ra ngoài ý nghĩa của một gói hỗ trợ ngắn hạn.
Phóng viên: Ngoài các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế, ngành Thuế cũng đang đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, qua đó chi phí tuân thủ được cắt giảm khoảng 4,4 nghìn tỷ đồng. Theo ông, việc giảm chi phí tuân thủ có ý nghĩa như thế nào đối với năng lực cạnh tranh của DN và sức hấp dẫn của môi trường đầu tư?
Ông Nguyễn Văn Được: Theo tôi, đây là một trong những điểm rất đáng ghi nhận của chính sách tài khóa hiện nay.
Trước đây, khi nói đến hỗ trợ DN, chúng ta thường nghĩ ngay đến miễn, giảm thuế. Nhưng trên thực tế, DN còn phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ để thực hiện nghĩa vụ thuế và các thủ tục hành chính. Đó là chi phí về thời gian, nhân lực, thuê kế toán, tư vấn, lưu trữ hồ sơ hay những chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện các thủ tục. Trong kinh tế học, đó là chi phí tuân thủ.
Vì vậy, theo tôi, hiệu quả của chính sách tài khóa không chỉ được đo bằng số thuế được miễn, giảm mà còn bằng chi phí tuân thủ mà DN tiết kiệm được.
Những năm gần đây, nhiều cải cách đã được triển khai đồng bộ như mở rộng khai, nộp và hoàn thuế điện tử; triển khai hóa đơn điện tử; kết nối dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia; ứng dụng VNeID trong giải quyết thủ tục hành chính; quản lý thuế theo phương pháp quản lý rủi ro…
Đặc biệt, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 đã thay đổi cách tiếp cận trong kiểm tra DN khi chuyển địa điểm kinh doanh, chỉ kiểm tra đối với trường hợp có rủi ro cao thay vì thực hiện đại trà như trước. Những thay đổi này vừa giúp DN giảm thời gian, chi phí, vừa giúp cơ quan thuế sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
Theo công bố của ngành Thuế, các giải pháp cải cách đã giúp giảm khoảng 4,4 nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ, tương đương khoảng 51%, vượt mục tiêu đề ra.
Đây là một kết quả rất có ý nghĩa, bởi nguồn lực DN tiết kiệm được sẽ được chuyển sang đầu tư, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất. Nói cách khác, giảm chi phí tuân thủ cũng chính là một hình thức hỗ trợ của chính sách tài khóa.
Tất nhiên, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng vẫn còn một số khâu cần tiếp tục hoàn thiện. Thực tế vẫn có DN phản ánh việc mở hoặc khôi phục mã số thuế, thay đổi thông tin đăng ký thuế hay một số thủ tục liên quan đến hóa đơn còn mất nhiều thời gian hơn kỳ vọng.
Điều DN mong muốn hiện nay không phải là có thêm thật nhiều chính sách hỗ trợ mới, mà là những cải cách đã ban hành được thực thi thống nhất và hiệu quả trên thực tế.
Phóng viên: Bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, thời gian qua ngành Thuế cũng tăng cường đối thoại, tiếp nhận và xử lý các phản ánh, kiến nghị của DN. Hoạt động này có ý nghĩa như thế nào đối với hiệu quả thực thi chính sách tài khóa?
Ông Nguyễn Văn Được: Không có chính sách nào ngay từ đầu đã có thể bao quát hết mọi tình huống phát sinh.
Quá trình triển khai luôn xuất hiện những vướng mắc mới, đặc biệt trong bối cảnh mô hình kinh doanh, phương thức giao dịch và môi trường kinh doanh thay đổi rất nhanh.
Việc cơ quan Thuế thường xuyên lắng nghe ý kiến từ DN, hiệp hội ngành nghề cũng như các tổ chức hành nghề kế toán, kiểm toán, tư vấn thuế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách.
Tôi đánh giá cao việc thời gian qua ngành Thuế đã chủ động chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu là giải đáp vướng mắc sang đồng hành để DN tuân thủ đúng ngay từ đầu.
Chẳng hạn, việc Cục Thuế gửi thư ngỏ tới các hiệp hội nghề nghiệp và các DN cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn thuế, đề nghị cùng phối hợp tuyên truyền, hướng dẫn người nộp thuế kê khai đúng, hạn chế tình trạng khai sai, khai lỗ không đúng quy định là một ví dụ cho thấy tư duy quản lý đang có sự thay đổi theo hướng phòng ngừa nhiều hơn là xử lý.
Đây cũng là xu hướng quản lý thuế hiện đại mà nhiều quốc gia đang hướng tới. Khi DN được hỗ trợ để tuân thủ đúng ngay từ đầu, thì không chỉ giảm rủi ro pháp lý cho DN mà còn giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế và chi phí xã hội nói chung.
Ở góc độ rộng hơn, đối thoại còn tạo ra một cơ chế phản hồi chính sách rất hiệu quả. Những khó khăn, bất cập phát sinh trong quá trình thực thi sẽ được cơ quan quản lý ghi nhận để tiếp tục rà soát, điều chỉnh khi cần thiết.
Điều này giúp chính sách ngày càng sát thực tiễn hơn, đồng thời củng cố niềm tin của DN vào môi trường đầu tư, kinh doanh.
Tuy nhiên, để cơ chế đối thoại phát huy hiệu quả cao hơn, điều quan trọng là các phản ánh của DN cần được phản hồi và xử lý kịp thời, đồng thời những bất cập mang tính phổ biến nên được tổng hợp để nghiên cứu hoàn thiện chính sách.
Khi DN thấy ý kiến của mình được lắng nghe và chuyển hóa thành hành động, niềm tin vào chính sách sẽ được củng cố hơn.
Phóng viên: Để chính sách tài khóa tiếp tục phát huy vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng trong thời gian tới, theo ông cần ưu tiên những giải pháp hỗ trợ gì?
Ông Nguyễn Văn Được: Theo tôi, không phải ban hành thật nhiều chính sách mới mà là tiếp tục nâng cao chất lượng của chính sách và hiệu quả tổ chức thực hiện.
Về chính sách thuế, trong điều kiện cho phép, có thể tiếp tục nghiên cứu các giải pháp hỗ trợ có trọng tâm đối với những nhóm DN và hộ kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn.
Trong quá trình triển khai, có thể tiếp tục đánh giá để xem xét mở rộng phạm vi thụ hưởng nếu phù hợp với điều kiện ngân sách. Xét về dài hạn, đây cũng là cách “khoan sức dân” để nuôi dưỡng nguồn thu.
Bên cạnh đó, các chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế cũng cần tiếp tục được sử dụng linh hoạt. Mặc dù không làm giảm nghĩa vụ thuế, nhưng việc DN được chậm nộp trong một khoảng thời gian nhất định sẽ giúp cải thiện dòng tiền, giảm áp lực tài chính và có thêm nguồn lực phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là giải pháp đặc biệt có ý nghĩa đối với DN trong giai đoạn cần mở rộng đầu tư.
Tuy nhiên, theo tôi, dư địa lớn nhất của chính sách tài khóa trong thời gian tới không chỉ nằm ở các chính sách miễn, giảm thuế mà còn ở việc tiếp tục cải cách thể chế và hiện đại hóa công tác quản lý.
Chuyển đổi số, ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng hỗ trợ người nộp thuế hay tổng đài hỗ trợ thông minh sẽ giúp giảm thêm chi phí tuân thủ, nâng cao chất lượng phục vụ và tăng hiệu quả quản lý.
Đồng thời, cũng cần tiếp tục rà soát những vướng mắc trong quá trình thực thi để bảo đảm các cải cách đi vào thực chất.
Chính sách tốt chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi DN có thể tiếp cận thuận lợi, thủ tục được giải quyết nhanh chóng và được thực hiện thống nhất trên toàn hệ thống. Đây cũng là điều cộng đồng DN kỳ vọng hiện nay.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

